Góc truyện

Thập tự chinh – Wikipedia tiếng Việt

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Thập tự chinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

Jerusalem

năm 1099

Thập tự chinh là một loạt các cuộc

chiến tranh tôn giáo

, được kêu gọi bởi

Giáo hoàng

và tiến hành bởi các vị

vua

quý tộc

là những người tình nguyện cầm lấy

cây thập giá

với mục tiêu chính là phục hồi sự kiểm soát của

Kitô giáo

với vùng

Đất Thánh

. Quân thập tự đến từ khắp

Tây Âu

, và đã có một loạt các chiến dịch không liên tục giữa năm

1095

1291

. Các chiến dịch tương tự ở

Tây Ban Nha

Đông Âu

tiếp tục vào

thế kỷ XV

. Các cuộc Thập Tự Chinh được chiến đấu chủ yếu giữa người

Giáo hội Công giáo Rôma

chống lại người

Hồi giáo

và các tín hữu Kitô giáo theo

Chính Thống giáo Đông phương

trong

Byzantium

, với các chiến dịch nhỏ hơn tiến hành chống lại

người Slav

ngoại giáo,

Balts

ngoại giáo,

Mông Cổ

, và người Kitô giáo ngoại đạo

[1]

. Chính Thống giáo Đông phương cũng tham gia chiến đấu chống lại lực lượng Hồi giáo trong một số cuộc Thập Tự Chinh. Thập tự chinh được thề và đã được cấp một ơn toàn xá bởi Đức Giáo hoàng

[1]

[2]

.

Các cuộc Thập Tự Chinh ban đầu có mục tiêu thu hồi lại

Jerusalem

và Đất Thánh khỏi ách thống trị của Hồi giáo và các chiến dịch của họ đã được xuất phát từ lời kêu gọi của các nhà lãnh đạo

đế chế Byzantine

để được sự giúp đỡ nhằm chống lại sự mở rộng của người

Thổ Seljuk

theo đạo Hồi tới

Anatolia

. Thuật ngữ này cũng được sử dụng để mô tả các chiến dịch đương thời và sau đó được thực hiện ở

thế kỷ XVI

ở vùng lãnh thổ bên ngoài

Levant

[3]

, thường là để chống lại ngoại giáo, và nhân dân bị khai trừ giáo tịch, cho một hỗn hợp của các lý do tôn giáo, kinh tế, và chính trị

[4]

. Sự kình địch giữa các quốc gia Kitô giáo và Hồi giáo đã dẫn liên minh giữa các phe phái tôn giáo chống lại đối thủ của họ, chẳng hạn như liên minh Kitô giáo với

Vương quốc Hồi giáo của Rûm

trong cuộc

Thập Tự Chinh thứ năm

.

Các cuộc Thập Tự Chinh đã có một số thành công tạm thời, nhưng quân Thập tự cuối cùng bị buộc phải rời khỏi Đất Thánh. Tuy nhiên các cuộc Thập Tự Chinh đều tác động từ chính trị, kinh tế và xã hội sâu rộng ở

châu Âu

. Bởi vì các cuộc xung đột nội bộ giữa các vương quốc Thiên chúa giáo và quyền lực chính trị, một số cuộc thám hiểm thập tự chinh đã chuyển hướng từ mục tiêu ban đầu của họ, chẳng hạn như cuộc

Thập Tự Chinh thứ tư

, dẫn đến sự chia cắt của

Constantinopolis

Thiên chúa giáo và sự phân vùng của đế chế Byzantine giữa

Venice

và quân Thập tự. Cuộc

Thập tự chinh thứ sáu

là cuộc thập tự chinh đầu tiên xuất phát mà không có sự cho phép chính thức của Đức Giáo hoàng

[5]

. Các cuộc

Thập Tự Chinh thứ bảy

,

thứ tám

thứ chín

đã dẫn đến kết quả là chiến thắng của

Mamluk

triều đại Hafsid

, như cuộc Thập Tự Chinh thứ chín đã đánh dấu sự kết thúc của cuộc Thập Tự Chinh ở

Trung Đông

[6]

.

Bối cảnh, nguyên nhân, động cơ[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Khoảng

thế kỷ thứ VII

, những người đứng đầu

đạo Hồi

tiến hành

các cuộc trường chinh xâm chiếm

các vùng đất mới. Từ năm

660

đến năm

710

, các giáo sĩ

Hồi giáo

đã chiếm được một

lãnh thổ

rộng lớn ở

Bắc Phi

,

Thổ Nhĩ Kỳ

. Đến năm

720

, những kỵ binh

Hồi giáo

chiếm

Tây Ban Nha

rồi thọc sâu vào đến tận lãnh thổ

Pháp

; từ năm

830

đến năm

976

Sicilia

và miền nam

Ý

rơi vào tay người

Hồi giáo

. Lúc này, những đoàn hành hương của tín đồ

Kitô giáo

về các miền

Đất Thánh

mà trong đó

Palestine

là nơi thiêng liêng nhất bắt đầu phổ biến từ thế kỷ IV và đến thế kỷ XI đã trở nên rất thịnh hành.

Người Thổ Seljuk

Hồi giáo

không cố ý ngăn cản những đoàn hành hương nhưng họ thu rất nhiều loại thuế, phí gây ra làn sóng phẫn nộ trong cộng đồng

Kitô giáo

[

cần dẫn nguồn

].

Cũng sang thế kỷ XI,

Đế quốc Byzantine

(Đế quốc Đông La Mã) chỉ còn lại một vài vùng đất ở

châu Âu

. Lúc này, nguy cơ người

Hồi giáo

tràn sang phía Tây đã hiện hữu đối với người

Kitô giáo

đặc biệt là sau khi quân đội

Seljuk

đánh bại quân

Byzantine

trong

trận Manzikert

năm

1071

và bắt được cả hoàng đế

Romanus IV

thì con đường tiến về

Constantinopolis

đã được khai thông. Suleyman, một thủ lĩnh người

Thổ Nhĩ Kỳ

và các chiến binh của ông thậm chí còn định cư ngay tại

Niacea

, chỉ cách

Constantinopolis

vài dặm. Để giành lại các vùng đất đã mất ở

Tiểu Á

, Hoàng đế

Byzantine

kêu gọi sự giúp đỡ từ phía Tây nhưng không có kết quả. Sau đó, họ kêu gọi sự giúp đỡ từ

Giáo hoàng

và để đổi lại, họ hứa sẽ xóa bỏ sự phân ly giữa

Chính thống giáo Đông phương

Giáo hội Công giáo Rôma

xảy ra năm

1054

. Ngày

27 tháng 11

năm

1095

tại Hội nghị giám mục,

Giáo hoàng

Urban II

(tại vị 1088-1099) kêu gọi các

hiệp sĩ

,

hoàng tử

phương Tây

và tín đồ

Kitô giáo

đến giúp đỡ tín hữu

Kitô giáo

phương Đông

đồng thời giành lại những vùng

Đất Thánh

đã mất.

Mặc dù những cuộc thánh chiến mang đậm màu sắc

tôn giáo

, nhưng giới sử học cho rằng bên trong nó còn có các động cơ

kinh tế

,

chính trị

,

xã hội

:

  • Tôn giáo: việc thánh chiến để bảo vệ và lấy lại những vùng đất của người

    Kitô giáo

    được hậu thuẫn bởi thay đổi quan trọng trong phong trào cải cách Giáo hội đang diễn ra. Trước khi

    Giáo hoàng

    Urban II

    phát ra lời kêu gọi, quan niệm Chúa sẽ thưởng công cho những ai chiến đấu vì chính nghĩa đã rất thịnh hành. Công cuộc cải cách của Giáo hội đã dẫn đến một thay đổi quan trọng: chính nghĩa là không chỉ là chịu đựng tội lỗi trong thế giới mà phải là cố gắng chỉnh sửa chúng.

    [7]

    . Các đạo quân thập tự chinh là tiêu biểu cho tinh thần ấy trong giai đoạn Giáo hội đang cải tổ mạnh mẽ.

  • Kinh tế, chính trị: những cuộc thập tự chinh diễn ra trong thời kỳ mà dân số

    châu Âu

    phát triển mạnh mẽ và các học giả cho rằng trên khía cạnh này nó có động cơ tương tự như cuộc tấn công của người

    Đức

    vào

    phương Đông

    cũng như cuộc xâm chiếm của người

    Tây Ban Nha

    [

    cần dẫn nguồn

    ]. Những cuộc thập tự chinh nhằm mục đích chiếm giữ những vùng đất mới để mở rộng sự bành trướng của

    phương Tây

    với các quốc gia Địa Trung Hải. Tuy nhiên thập tự chinh khác với những cuộc tấn công, xâm chiếm của người

    Đức

    và người

    Tây Ban Nha

    ở chỗ nó chủ yếu dành cho tầng lớp

    hiệp sĩ

    nông dân

    du cư ở

    Palestine

    .

  • Xã hội: tầng lớp

    hiệp sĩ

    đặc biệt nhạy cảm với sự tăng trưởng nhanh chóng của dân số

    châu Âu

    trong giai đoạn này. Họ được đào tạo, huấn luyện để tiến hành

    chiến tranh

    và trong bối cảnh dân số phát triển mạnh mẽ, những cuộc xung đột để giành đất đai đã xảy ra.

    Giáo hoàng

    Urban II

    đã nói với các hiệp sĩ của nước

    Pháp

    như sau: “Đất đai mà các bạn cư ngụ thì quá hẹp đối với một dân số lớn; nó cũng không thừa của cải; và nó khó lòng cung cấp đủ thực phẩm cho những người trồng trọt trên nó. Đây là lý do vì sao các bạn phải tàn sát và tàn phá lẫn nhau.

    [7]

    Như vậy, họ được khuyến khích đi viễn chinh để giành đất và trên góc độ nào đó các cuộc thập tự chinh là phương tiện bạo lực nhằm rút bạo lực ra khỏi đời sống thời

    Trung Cổ

    .

    [8]

    cũng như đem lại lợi ích kép như lời Thánh Bernard thành Clairvaux đã nói: “Sự ra đi của họ làm cho dân chúng hạnh phúc, và sự đến của họ làm phấn khởi những người đang thúc giục họ giúp đỡ. Họ giúp cả hai nhóm, không những bảo vệ nhóm này mà còn không áp bức nhóm kia.“.

    [8]

Các cuộc Thập tự chinh[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Về danh sách các cuộc thập tự chinh, chưa có sự thống nhất cao trên thế giới, danh sách này có thể lên đến 9 cuộc tùy quan điểm.

Bạn đang xem: Thập tự chinh – Wikipedia tiếng Việt

Thập tự chinh thứ nhất (1095 – 1099)[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Cuộc bao vây Antioch trong

Thập tự chinh thứ nhất

Tháng 9 năm

1095

,

Giáo hoàng Urban II

đã có một bài thuyết giảng tại

Clermont

, miền nam nước

Pháp

kêu gọi giới

quý tộc

đảm nhiệm cuộc viễn chinh vào Đất Thánh. Lời kêu gọi này đã gây tác động đến mọi tầng lớp trong xã hội

phương Tây

và dẫn đến một cuộc thập tự chinh mang tính đại chúng với sự tham gia đông đảo của

nông dân

và người nghèo ở miền bắc

Pháp

và châu thổ

sông Rhine

cùng với một số

hiệp sĩ

tu sỹ

vào tháng 2 năm 1096, được lãnh đạo bởi một thầy tu ẩn dật người Pháp tên là Piere l’Ermite. Đội quân đông đảo nhưng trang bị thô sơ và không được tổ chức tốt này tấn công người

Do Thái

, từ Cologne (Đức) vượt qua

Bulgaria

,

Hungary

rồi kéo đến

Constantinople

. Sau khi được hoàng đế

Alexios I

của

Byzantine

đưa qua eo

Bosphorus

, họ nhanh chóng bị quân đội

Thổ Nhĩ Kỳ

đánh tan.

Ngay sau đó, một đội quân thực sự được tổ chức tốt do giới quý tộc lãnh đạo đã lên đường tiến hành cuộc thập tự chinh chính thức lần thứ nhất. Những chỉ huy gồm có:

Robert xứ Normandy

(con trai của

William the Conqueror

);

Godfrey xứ Bouillon

cùng hai anh trai là

Baldwin xứ Boulogne

Robert xứ Flanders

;

Raymon IV xứ Toulouse

;

Bohemond I xứ Antioch

,

Tancred xứ Taranto

,… Họ dẫn đầu 4 đạo quân theo nhiều hành trình đường bộ và đường biển đến

Constantinople

năm

1096

1097

để từ đó tấn công

nhà Seljuk ở Rum

. Cuối tháng 4 năm

1097

, đội quân thập tự chinh tiến vào lãnh thổ của

người Seljuk

và giành được thắng lợi đầu tiên trong

trận Dorylaeum

[9]

ngày

1 tháng 7

năm

1097

. Chiến thắng có tính chất bước ngoặt của thập tự quân là việc đánh chiếm thành phố cảng

Antioch

[10]

và đã giành được thắng lợi sau cuộc vây hãm kéo dài 8 tháng, mở thông đường tiến về

Jerusalem

. Ngày

7 tháng 6

năm

1099

, Thập tự quân tới

Jerusalem

và bắt đầu vây hãm thành phố. Ngày

15 tháng 7

năm

1099

, thập tự quân đột kích chiếm

Jerusalem

và tàn sát các tín đồ

Hồi giáo

,

Do Thái giáo

cũng như cả

Chính thống giáo Đông phương

[11]

. Trong khi đoàn quân chủ yếu tiến đến

Antiochia

Jerusalem

thì

Baldwin xứ Boulogne

tách đội quân của mình ra để chiếm

Edessa

[12]

, nơi ông thiết lập Công quốc thập tự quân đầu tiên ở

phương Đông

. Sau đó với sự giúp đỡ của hạm đội của

Venice

Genoa

, Thập tự quân chiếm được toàn bộ bờ Đông

Địa Trung Hải

và thiết lập bá quốc Tripoli và một số tiểu quốc khác.

Kết quả của

Thập tự chinh thứ nhất

là đã lập ra một loạt những Công quốc Thập tự quân:

Edessa

,

Antioch

,

Tripoli

… và đặc biệt là

Jerusalem

trải rộng trên khắp vùng

Cận Đông

.

Thập tự chinh thứ hai (1147 – 1149)[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Năm

1144

, việc quân

Hồi giáo

tái chiếm

Edessa

và uy hiếp

Jerusalem

đã dẫn đến cuộc

thập tự chinh thứ hai

do

Bernard thành Clairvaux

tích cực phát động. Đoàn thập tự chinh gồm hai đội quân, một do vua

Louis VII của Pháp

, một do vua

Konrad III (Hohenstaufen)

của

Đức

chỉ huy lên đường chiếm

Damascus

(

Syria

) để tạo tiền đồn phòng thủ tốt hơn cho

Jerusalem

. Cuộc đột chiếm

Damascus

thất bại, thành phố này rơi vào tay vua

Nur ad-Din Zangi

, vị tiểu vương

Hồi giáo

đã dẫn quân đến cứu viện theo đề nghị của

Damascus

. Đội quân thập tự chinh phải rút về nước mà không giành được một thành quả nào ngoại trừ việc Thập tự quân

Bắc Âu

dừng lại ở

Lisboa

và cùng với người

Bồ Đào Nha

chiếm lại thành phố này từ người

Hồi giáo

.

Thập tự chinh thứ ba (1189 – 1192)[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Hình được cho là vẽ Richard Sư tử tâm và Saladin

Sau khi

Saladin

chiếm được

Ai Cập

, trở thành

Sultan

ở đây và thống nhất các tín đồ

Hồi giáo

,

Syria

bị đe dọa nghiêm trọng, lãnh thổ của người

Kitô giáo

có thể bị xâm lấn bất cứ lúc nào. Năm

1187

,

Saladin

đánh bại quân Thập tự và chiếm lại

Jerusalem

nên nguy cơ công quốc thập tự quân này bị xóa sổ đã hiện hữu. Trước tình hình đó, hoàng đế

Friedrich I Barbarossa

của

đế quốc La Mã thần thánh

, vua

Philippe II Auguste

của

Pháp

cùng vua

Richard I Sư tử tâm

của

Anh

đồng loạt tiến quân về

phương Đông

, tiến hành cuộc

Thập tự chinh thứ ba

. Ngày

10 tháng 6

năm

1190

, Friedrich I Barbarossa chết đuối khi đang vượt sông Saleph (nay là sông Goksu) ở xứ

Tiểu Á

,

Thổ Nhĩ Kỳ

và hầu hết quân đội của ông quay trở về nước. Đội quân của

Richard Sư tử tâm

Philippe II Auguste

đã vây hãm và chiếm được

Acre

[13]

, đây là thắng lợi quan trọng nhất của cuộc thập tự chinh này, nhưng do mâu thuẫn vốn có giữa 2 vương quốc nên Philippe II Auguste bỏ về nước để thực hiện các kế hoạch thiết thân hơn ở

Tây Âu

. Mặc dù vậy,

thập tự chinh thứ ba

kết thúc trong bế tắc, Richard phải ký hòa ước với Saladin vào ngày 2 tháng 9 năm 1192, theo đó lãnh thổ của công quốc

Jerusalem

vẫn nằm trong một phạm vi hẹp từ

Acre

đến

Jaffa

và việc người

Kitô giáo

hành hương được quyền viếng thăm

Jerusalem

trong 3 năm là kết quả của cuộc viễn chinh tốn kém này. Trên đường về nước năm

1192

, con tàu của

Richard Sư tử tâm

bị hỏng ở

Aquileia

(

Ý

), ngay trước

Giáng Sinh

năm ấy, ông bị

Leopold V (Công tước Áo)

bắt giữ rồi trao cho hoàng đế

Heinrich VI (Đế quốc La Mã thần thánh)

.

Richard Sư tử tâm

bị cầm tù cho đến

4 tháng 2

năm

1194

mới được giải phóng sau khi đã trả tiền chuộc.

Xem thêm: Review Đam Mỹ-Cơ giáp khế ước nô đãi

Thập tự chinh thứ tư (1202 – 1204)[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Quân Thập tự chinh đánh chiếm Constantinople vào năm 1204

Cuộc

Thập tự chinh thứ tư

bắt đầu năm

1202

do

Giáo hoàng

Innocent III

phát động với mục tiêu chiếm

Ai Cập

để từ đó tấn công

Jerusalem

. Thế nhưng do thiếu nguồn lực tài chính nên những người chỉ huy thập tự quân đã thỏa thuận với

Venezia

nhằm có được phương tiện và hậu cần đảm bảo cho cuộc hành quân sang

Ai Cập

, để đổi lại, người

Venezia

sẽ nhận một nửa đất chiếm được và Thập tự quân phải trả 85000 đồng mác bằng bạc

[14]

. Sau đó,

Venezia

đề nghị đội quân thập tự chinh đánh chiếm

Zara

, địch thủ thương nghiệp của Venezia

[15]

, một thành phố cũng của người

Kitô giáo

. Bởi còn thiếu 34000 mác, thập tự quân đã tấn công và đánh chiếm

Zara

vào tháng 11 năm 1202. Kế tiếp, người

Venezia

lại thuyết phục thập tự quân tấn công

Constantinople

, thủ đô của

Đế quốc Byzantine

theo

Chính thống giáo Đông phương

. Thành phố vốn đang bị chia rẽ bởi mối bất hòa giữa các phe phái này nhanh chóng thất thủ ngày

12 tháng 4

năm

1204

. Mặc dù

Giáo hoàng

Innocent III

cố gắng ngăn chặn các đạo quân thập tự, song chúng cũng cướp bóc và đốt cháy hết một phần thành phố

[16]

. Sau đó người

Venezia

Thập tự quân phân chia

đế quốc Byzantine

thành các công quốc và thống trị cho đến năm

1261

. Cuộc Thập tự chinh chấm dứt mà Thập tự quân không tiếp tục tiến về

Đất Thánh

.

Thập tự chinh thứ năm (1217 – 1219)[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Thập tự chinh thứ năm

do

Giáo hoàng

Honorius III

tổ chức, Thập tự quân năm

1217

gồm các đạo quân do

Leopold VI (Công tước Áo)

András II của Hungary

dẫn đầu, đến năm

1218

, quân đội của Oliver thành Cologne và một đội quân hỗn hợp của vua

Hà Lan

Willem I

cũng tham gia. Mục tiêu của Thập tự quân lần này là tấn công

Ai Cập

. Năm

1218

, John thành Brienne, vua

Jerusalem

bị thay thế. Năm

1219

, Thập tư quân công chiếm

Damietta

[17]

Giáo hoàng

cử đại diện là Pelagius

[18]

thống lĩnh cuộc Thập tự chinh. Người

Hồi giáo

đã đề nghị đổi quyền kiểm soát giữa Damietta và

Jerusalem

nhưng Pelagius từ chối. Năm

1219

, Thập tự quân định tấn công

Cairo

nhưng không vượt qua được

sông Nin

đang trong mùa nước lũ và buộc phải rút lui do hậu cần không đảm bảo. Trên đường rút lui, những cuộc tấn công vào ban đêm của quân đội

Hồi giáo

đã gây nhiều thiệt hại cho Thập tự quân và Damietta bị tái chiếm.

Thập tự chinh thứ sáu (1228 – 1229)

[19]

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Đoàn quân do hoàng đế

Friedrich II (Đế quốc La Mã thần thánh)

đứng đầu tiến hành

Thập tự chinh thứ sáu

năm

1228

nhưng nhanh chóng quay trở về và

Friedrich II

đã bị

Giáo hoàng

rút phép thông công. Sau đó Friedrich II quay sang đàm phán, năm

1229

ông đạt được với người

Hồi giáo

một hiệp ước hòa bình trong mười năm, khôi phục lại quyền kiểm soát

Jerusalem

,

Nazareth

Bethlehem

cùng với một hành lang từ

Jerusalem

ra biển cho những người

Kitô giáo

. Trước sự chống đối của các giáo trưởng ở

Jerusalem

, Friedrich II đã tự phong mình làm vua ở đây năm

1229

. Năm

1244

,

Jerusalem

thất thủ trước sự tấn công ồ ạt của lính đánh thuê

Hồi giáo

và người

Kitô giáo

chỉ trở lại kiểm soát được thành phố này vào năm

1917

.

Xem thêm: Đọc Truyện Hệ Thống Anh Dũng Tìm Chết

Thập tự chinh thứ bảy (1248 – 1254)[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Sau khi

Jerusalem

bị chiếm, vua

Pháp

Louis IX

(Thánh Louis) đã chuẩn bị một cuộc Thập tự chinh vào năm

1247

, mục tiêu lần này vẫn là

Ai Cập

. Mặc dù đội quân không được tổ chức tốt, năm

1248

, ông vẫn chiếm được

Damietta

một cách dễ dàng và tiến quân về

Cairo

năm

1249

. Tuy nhiên, Thập tự quân nhanh chóng bị quân

Hồi giáo

của

Baybars I

Emir Fakr ed-Din đánh bại trong

trận Mansoura

[20]

ngày

8 tháng 2

năm

1250

, Damietta lại rơi vào tay người

Hồi giáo

. Vua

Louis IX của Pháp

bị bắt làm tù binh và được thả sau khi đã trả tiền chuộc.

Thập tự chinh thứ tám (1270)[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Chiếm

Constantinople

năm 1204

Các sự kiện

Jaffa

Antioch

bị người

Hồi giáo

chiếm lại đã dẫn đến cuộc Thập tự chinh do

Vua Louis IX

tiến hành. Cuộc viễn chinh lần này nhằm đến

Tunisia

, Thập tự quân tấn công

Tunis

nhưng ngày

25 tháng 8

năm

1270

,

Louis IX

chết ở gần

Tunis

bệnh dịch hạch

. Sau đó đội quân của

Louis IX

cùng với đoàn Thập tự quân do hoàng tử

Anh

Edward

tiếp tục tiến hành cuộc Thập tự chinh nhưng không đạt kết quả nào. Cuộc tấn công

Tunis

ngừng lại còn hoàng tử Edward dẫn quân tới

Acre

. Những hoạt động của đội quân do hoàng tử Edward chỉ huy trong những năm

1271

1272

có tài liệu gọi là

Thập tự chinh thứ chín

, có tài liệu lại ghép vào cùng với

Thập tự chinh thứ tám

. Trong hai năm này, hoàng tử Edward cũng không đạt được kết quả nào đáng kể cho đến khi ông đình chiến và quay trở về

Anh

để kế thừa ngôi báu sau cái chết của nhà vua

Henry III

. Đây cũng là cuộc viễn chinh cuối cùng trong thời Trung Cổ của người

Kitô giáo

tới miền

Đất Thánh

. Năm

1289

,

Tripoli

bị người

Hồi giáo

chiếm và tới năm

1291

, khi

Acre

cũng rơi vào tay họ thì giai đoạn của các cuộc Thập tự chinh thời trung cổ kết thúc.

Thập tự chinh thứ chín 1271–1272[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Xem thêm: Này, Chớ Làm Loạn-Chương 47: Bạn gái

Thập tự chinh phía Bắc (Baltic và Đức)[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Các cuộc thập tự chinh khác[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Ngoài những cuộc thập tự chinh tới miền

Đất Thánh

, một số hoạt động quân sự khác trong giai đoạn này cũng được gọi là Thập tự chinh như: chiến dịch quân sự chống lại giáo phái Albi ở vùng

Languedoc

,

Pháp

từ năm

1209

đến năm

1229

; sự kiện thực hư lẫn lộn xảy ra năm

1212

khi hàng loạt trẻ em kéo tới

Ý

được gọi là

Thập tự chinh của trẻ em

; hay các hoạt động quân sự chống lại người

Tarta

, những cuộc hành binh đến

Thụy Điển

, vùng

Balkan

… cũng được coi là Thập tự chinh.

Các hiệp sĩ tham gia thập tự chinh[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Ngay sau cuộc

Thập tự chinh thứ nhất

, các

hiệp sĩ

đã hình thành nên một tầng lớp mới, tầng lớp quân đội-tôn giáo. Những phẩm chất như sự cống hiến, kỷ luật và kinh nghiệm tu hành của họ được kết hợp vào mục đích quân sự của các cuộc thập tự chinh. Tầng lớp này cung cấp các đội bảo vệ vũ trang cho những đoàn hành hương về Đất Thánh, bảo vệ dân cư và trở nên rất cần thiết cho các vương triều

phương Tây

cũng như đóng vai trò quan trọng trong xã hội

châu Âu

thời kỳ đó.

  • Hiệp sĩ dòng Đền

    (hay Hiệp sĩ Đền thờ;

    Tiếng Pháp

    : Ordre du Temple) do các hiệp sĩ

    Pháp

    thành lập đầu thế kỷ XII. Họ sống chung với nhau trong các khu nhà hoặc cộng đồng riêng và tôn chỉ là 3 lời thề tu sỹ: nghèo khó, thanh khiết và phục tùng. Họ tự ý thức trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ

    Công quốc Jerusalem

    , đảm bảo sự an toàn cho các tuyến đường nối

    tây Âu

    với các Công quốc Thập tự quân. Các Hiệp sĩ Đền thờ cũng đảm nhận việc vận chuyển, bảo vệ tiền bạc rất cần thiết cho những cuộc thập tự chinh diễn ra liên tục và do vậy trở thành thể chế ngân hàng quan trọng nhất của thời đại

    [21]

    . Năm

    1321

    , các hoạt động của Hiệp sĩ Đền thờ bị

    Giáo hoàng

    ra lệnh cấm.

  • Hiệp sĩ Cứu tế Thánh Gioan

    hay gọi ngắn gọn là Hiệp sĩ Cứu tế (

    Anh ngữ

    :Knights Hospitaller): do các hiệp sĩ ở

    Jerusalem

    thành lập vào khoảng năm

    1103

    . Tuy quân số không đông bằng Hiệp sĩ Đền thờ nhưng họ đã giữ vai trò quan trọng trong công cuộc bảo vệ Công quốc Jerusalem trong suốt thời gian xảy ra những cuộc Thập tự chinh. Năm

    1291

    , sau khi thành

    Acre

    thất thủ, tổng hành dinh của Hiệp sĩ Cứu tế dời đến

    Cộng hòa Síp

    rồi sau đó đến đảo

    Rhodes

    và cuối cùng là đảo

    Malta

    . Cùng với các hiệp sĩ ở

    Malta

    , họ cai trị hòn đảo này cho đến năm

    1798

    khi

    Napoléon Bonaparte

    chiếm

    Malta

    trên con đường chinh phục

    Ai Cập

    . Các hiệp sĩ trở thành Giai cấp tối cao (sovereign order) ở

    Malta

    và còn tồn tại đến ngày nay như một nhóm chuyên làm các công việc bác ái.

  • Hiệp sĩ Giéc-man

    (tiếng Đức: Deutscher Orden): được thành lập vào khoảng năm

    1190

    Acre

    để bảo vệ các đoàn hành hương người

    Đức

    đến

    Palestine

    . Tổng hành dinh của họ sau được dời đến

    Venezia

    , rồi

    Transynvania

    [22]

    năm

    1211

    và cuối cùng là đến

    Phổ

    năm

    1299

    . Các Hiệp sĩ Giécman đã trở thành đội quân tiên phong của

    Đức

    mở rộng lãnh thổ về phía đông và chiếm được một vùng đất dọc theo

    biển Baltic

    . Năm

    1525

    , trong phong trào cải cách tôn giáo ở

    châu Âu

    , Albert thành Brandenburg, một đại địa chủ theo học thuyết của

    Martin Luther

    đã nắm quyền kiểm soát ở đây và giải trừ quyền hành của tầng lớp Hiệp sĩ Giécman.

Dấu ấn của Thập tự chinh[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Hai lực lượng chính đối đầu nhau trong những cuộc thập tự chinh là những người

Kitô giáo

Hồi giáo

có quan điểm đánh giá rất khác nhau về những cuộc Thập tự chinh. Đối với

phương Tây

, Thập tự chinh là những cuộc viễn chinh mạo hiểm nhưng anh hùng, những người tham gia thập tự chinh, dù rất nhiều trong số họ đã bỏ mình nơi chiến địa được xem là tiêu biểu cho sự dũng cảm và tinh thần hiệp sĩ.

Richard Sư tử tâm

được xem là vị vua đắc thủ tất cả những đức tính của một hiệp sĩ kiểu mẫu – gan dạ, thiện chiến, phong độ uy nghi, ngay cả sự nhạy bén để soạn những bài ca trữ tình của giới ca sĩ hát rong.

[23]

. Louis IX, vị vua đã băng hà trong cuộc Thập tự chinh ở

Tunisia

, với đức tính ngoan đạo, khổ hạnh cũng như công lý mà ông đem lại cho nền quân chủ

Pháp

thậm chí trong suốt cuộc đời mình, vua Louis đã được xem là bậc thánh.

[24]

. Cao lớn, đẹp trai, lịch thiệp và quả cảm, vua Friedrich I Barbarossa, cũng giống như vị vua trước đó là

Charlemagne

, đã giành được vị trí lâu dài trong ký ức và huyền thoại của thần dân.

[25]

. Godfrey xứ

Bouillon

, với chiến công cùng với một nhóm hiệp sĩ của mình là những người đầu tiên vượt qua tường thành để xâm nhập

Jerusalem

và chiếm lại

Đất Thánh

trong cuộc vây hãm ở

Thập tự chinh thứ nhất

đã trở thành huyền thoại. Ông được người

châu Âu

thời ấy xếp vào một trong số Chín biểu tượng của tinh thần hiệp sĩ trong mọi thời đại, được ca ngợi trong những bản trường ca, một thể loại vốn phổ biến ở

Pháp

thời trung cổ. Cuộc tấn công

Antioch

cũng là chủ đề của bản Trường ca Antioch dài hơn 9.000 câu thơ. Những bài hát của ca sĩ hát rong ở khắp

châu Âu

ca ngợi những thủ lĩnh, những hiệp sĩ thập tự chinh và những mối tình lãng mạn của họ.

Dấu ấn lịch sử của Thập tự chinh trong thế giới

Hồi giáo

không đậm nét bằng ở

phương Tây

mặc dù những vị vua

Hồi giáo

chống lại người

Kitô giáo

như

Nur ad-Din

,…đặc biệt là

Saladin

cũng rất được ngưỡng mộ và kính trọng. Đối với người

Hồi giáo

, Thập tự chinh là những sự kiện đầy tàn bạo và dã man và những cuộc chiến đấu của họ chống lại Thập tự quân được gọi là Thánh chiến.

Ảnh hưởng của Thập tự chinh[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Mặc dù các cuộc Thập tự chinh không tạo ra sự hiện diện thường xuyên và vững chắc của

phương Tây

tại

Tiểu Á

nhưng sự tiếp xúc giữa văn hóa

phương Đông

phương Tây

đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hai nền văn hóa này.

  • Kỹ thuật quân sự: sau những cuộc Thập tự chinh đầu tiên, Thập tự quân đã phải tiến hành các chiến dịch phòng thủ quy mô lớn ở những tiền đồn xa xôi và điều này khiến cho kỹ thuật phòng vệ, đặc biệt là kỹ thuật xây dựng

    lâu đài

    phát triển. Các

    lâu đài

    có thiết kế

    công sự

    tháp treo để thuận lợi cho việc bắn vũ khí, ném

    gỗ

    ,

    đá

    , dầu… vào những người tấn công; lối vào

    lâu đài

    được bố trí các góc, tường ngăn không cho đối phương công phá trực tiếp. Các

    lâu đài

    Hồi giáo

    cũng có bước phát triển tương tự. Cùng với kỹ thuật phòng thủ, các phương tiện công thành như

    máy bắn đá

    ,

    máy phá thành

    bằng những khúc

    gỗ

    lớn…trở nên tinh vi và hiệu quả hơn; các kỹ thuật đào đất, đặt

    chất nổ

    …cũng có bước phát triển.

  • Kinh tế: mặc dù không có số liệu thống kê tin cậy về thu nhập cũng như phí tổn của các cuộc Thập tự chinh nhưng chắc chắn rằng chúng rất tốn kém, đặc biệt là đối với

    phương Tây

    do họ phải tiến hành viễn chinh. Chiến tranh đã làm cạn kiệt dần nguồn lực của

    phương Tây

    dẫn đến phải áp dụng

    thuế

    ở mức độ cao. Để tài trợ cho

    Thập tự chinh thứ ba

    , năm

    1188

    , với sự cho phép của

    Giáo hoàng

    , các vương công đã đánh thuế trực thu 10% trên thu nhập của tất cả

    tu sỹ

    và người dân có thu nhập gọi là Thuế thập phân Saladin.

    Thuế

    cũng kéo theo sự phát triển của các kỹ thuật quản lý, thu thuế, chuyển tiền…Mặt khác, Thập tự chinh kích thích thương mại giữa

    phương Đông

    phương Tây

    : các sản phẩm như đường,

    gia vị

    ,… từ

    phương Đông

    được buôn bán rất mạnh; các mặt hàng xa xỉ như vải lụa…cũng được phát triển sản xuất ngay tại

    châu Âu

    .

  • Các cuộc thăm dò: Thập tự chinh đã kích thích những cuộc thăm dò của người

    phương Tây

    đến những nền văn hóa

    phương Đông

    . Khởi phát là các công quốc có Thập tự quân, các

    tu sỹ

    rồi đến

    thương gia

    ; họ đã thâm nhập sâu vào lục địa

    châu Á

    và đầu thế kỷ XIII đã đến

    Trung Hoa

    . Những chuyến đi của họ, đặc biệt là của

    Marco Polo

    đã cung cấp cho

    châu Âu

    nguồn thông tin đa dạng và quý báu về

    Đông Á

    , tạo tiền đề cho những nhà hàng hải tìm kiếm các lộ trình mới để buôn bán với

    Trung Hoa

    vào cuối thế kỷ XV và thế kỷ XVI. Khát vọng thăm dò, chiếm đoạt các nền văn hóa khác, và mở rộng

    Kitô giáo

    là một phần mà các cuộc Thập tự chinh đã truyền cảm hứng cho chủ nghĩa đế quốc sau này.

    [26]

    .

  • Chính trị:
  • Văn hóa:

Xem thêm[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Những cuộc xâm lược của người Hồi Giáo

Chú thích[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    a

    b

    Riley-Smith, Jonathan. The Oxford History of the Crusades New York: Oxford University Press, 1999.

    ISBN 0-19-285364-3

    .

  2. ^

    Riley-Smith, Jonathan. The First Crusaders, 1095–1131 Cambridge University Press, 1998.

    ISBN 0-521-64603-0

    .

  3. ^

    Như lãnh thổ Hồi giáo ở

    Al-Andalus

    ,

    Ifriqiya

    , và

    Ai Cập

    , cũng như ở

    Đông Âu

  4. ^

    e.g. the

    Albigensian Crusade

    , the

    Aragonese Crusade

    , the

    Reconquista

    , and the

    Northern Crusades

    .

  5. ^

    Halsall, Paul (1997).

    “Philip de Novare: Les Gestes des Ciprois, The Crusade of Frederick II, 1228–29”

    . Medieval Sourcebook. Fordham University. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2008.—”Gregory IX had in fact excommunicated Frederick before he left Sicily the second time”

  6. ^

    The Gospel in All Lands By Methodist Episcopal Church Missionary Society, Missionary Society, Methodist Episcopal Church, pg. 262

  7. ^

    a

    b

    Mortimer Chambers,…; Tr. 314.

  8. ^

    a

    b

    Mortimer Chambers,…; Tr. 315.

  9. ^

    Dorylaeum: một thành phố cổ thuộc

    Tiểu Á

    , phế tích của nó ở gần thành phố Eskisehir ngày nay.

  10. ^

    Antioch: một thành phố cổ ở địa điểm nay là thành phố Antakya, Thổ Nhĩ Kỳ.

  11. ^

    Mortimer Chambers,…; Tr. 317.

  12. ^

    Edessa: thành phố cổ phía nam Thổ Nhĩ Kỳ, ở vị trí nay là Sanliurfa (Urfa)

  13. ^

    Acre: một thành phố cảng nằm ven vịnh Haifa, Israel.

  14. ^

    Dịch giả: Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hằng, Trần Văn La. Lịch sử thế giới trung đại. Trang 54. Nhà xuất bản giáo dục.2006.

  15. ^

    Zara: một thành phố thuộc Croatia ngày nay, nằm ven biển Adriatic.

  16. ^

    Mortimer Chambers,..; Tr. 321.

  17. ^

    Damietta: thành phố cảng ở Ai Cập, cách Cairo 200 km về phía bắc.

  18. ^

    Pelagus: tên thật là Pelagio Galvani (? – 1230), Hồng y người Tây Ban Nha.

  19. ^

    Có tài liệu không coi đây là một cuộc Thập tự chinh riêng rẽ mà ghép nó vào cuộc Thập tự chinh thứ năm

  20. ^

    Mansoura hay El Mansurah: một thành phố trong vùng châu thổ sông Nin, cách Cairo 120 km về phía đông bắc.

  21. ^

    Mortimer Chambers,…; Tr. 321.

  22. ^

    Transynvania: một vùng đất trong lịch sử bao gồm lãnh thổ miền Trung Tây Romania ngày nay.

  23. ^

    Mortimer Chambers,…; Tr.348.

  24. ^

    Mortimer Chambers,…; Tr.354.

  25. ^

    Mortimer Chambers,…; Tr.357.

  26. ^

    Mortimer Chambers,…; Tr. 323.

Tham khảo[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Mortinmer Chambers, Barbara Hanawalt, David Herlihy, Theodore Rabb K., Isser Woloch, Raymond Grew – Lịch sử văn minh phương Tây, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin (2004)
  • Atwood, Christopher P. (2004). The Encyclopedia of Mongolia and the Mongol Empire. Facts on File, Inc.

    ISBN 0-8160-4671-9

    .

  • Erdmann, Carl

    , The Origin of the Idea of Crusade, trans. M. W. Baldwin &

    Walter Goffart

    , in English (Princeton, 1977). Original work in German, Die Enstehung des Kreuzzugsgedanken, Forschungen zur Kirchen- und Geistesgeschichte 6 (Stuttgart, 1935).

  • The Encyclopedia of World History. 2001

    Lưu trữ

    2007-12-17 tại

    Wayback Machine

  • The Crusades

    Lưu trữ

    2007-10-26 tại

    Wayback Machine

Xem thêm[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Jerusalem

  • Đế quốc Byzantine

Liên kết ngoài[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Biên niên về các cuộc Thập tự chinh (tiếng Anh)

  • E.L. Skip Knox,

    The Crusades

    Lưu trữ

    2010-10-10 tại

    Wayback Machine

    , a virtual college course through

    Boise State University

    .

  • Crusades: A Guide to Online Resources

    Lưu trữ

    2013-12-06 tại

    Wayback Machine

    , Paul Crawford, 1999.

  • The Society for the Study of the Crusades and the Latin East

    —an international organization of professional Crusade scholars

  • De Re Militari: The Society for Medieval Military History

    —contains articles and primary sources related to the Crusades

  • Resources > Medieval Jewish History > The Crusades

    Lưu trữ

    2007-10-11 tại

    Wayback Machine

    The Jewish History Resource Center – Project of the Dinur Center for Research in Jewish History, The

    Hebrew University of Jerusalem

  • The Crusades Encyclopedia

    – articles, primary and secondary sources, and bibliographies

  • An Islamic View of the Battlefield

    an article that provides indepth analysis of the theological basis of human wars

  • A History of the Crusades

  • A History Of The Crusades

    by

    Terry Jones

  • The Crusades Wiki

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thập_tự_chinh&oldid=66276348

Chuyên mục: Góc truyện

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button
444 live app 444 live 444 live app 444live kisslive kiss live yy live yylive